Luật đấu thầu 43
Khoản 4.2 - Xem xét nhà thầu độc lập:
Nhà thầu được đánh giá độc lập và cụ thể hơn về pháp lý, dựa theo luật đấu thầu 43 tài chính với nhà thầu khác; với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, luật đấu thầu 43 cho phép bên mời thầu khi đáp ứng các điều kiện sau:
Không cùng một cơ quan hoặc đích xác là tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sự nghiệp.
Nhà thầu với chủ đầu tư, luật đấu thầu 43 quy định bên mời thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau.
Nhà thầu không có cổ phần hoặc có khi sẽ là phần ít hơn dựa trên vốn góp trên 20% của nhau khi cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế.
Nhà thầu tham dự thầu với tư cách chính xác sẽ là nhà thầu tư vấn luật đấu thầu 43 không có cổ phần hoặc vốn góp cùng nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của một tổ chức, cá nhân khác với từng bên.2. Điều 3- Nguyên tắc ưu đãi:
Trường hợp sau khi tính ưu đãi, nếu các hồ sơ dự thầu biểu hiện là có cơ sở, hồ sơ đề xuất xếp hạng ngang nhau thì ưu tiên cho nhà thầu có nhiều cơ hội đề xuất chi phí trong nước cao hơn hoặc sử dụng nhiều lao động địa phương hơn.
Trường hợp nhà thầu tham dự thầu có khi sẽ là thuộc đối tượng được hưởng nhiều hơn một loại ưu đãi thì luật đấu thầu 43 cho phép khi tính ưu đãi chỉ được tính theo mức hưởng một loại ưu đãi cao nhất.
Đối với gói thầu hỗn hợp, việc mà chủ đầu tư có thể xác định được tính ưu đãi căn cứ tất cả các đề xuất của nhà thầu trong các phần công việc thuộc về mặt tư vấn, cung cấp hàng hóa, xây lắp. Nhà thầu được hưởng ưu đãi có thể xem như bất kể khi có đề xuất chi phí trong nước từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.
Điều 5- Ưu đãi riêng biệt hàng hóa trong nước:
Hàng hóa trong nước chắc chắn sẽ được luật đấu thầu 43 ban hành ưu đãi khi nhà thầu chứng minh được hàng hóa đó có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên có thể trụ vững trong giá hàng hóa.
Điều 6- Ưu đãi của mục đấu thầu trong nước:
Ưu đãi đối với gói thầu dựa trên phần lớn từ bộ luật đấu thầu 43 mua sắm hàng hóa trong nước; hồ sơ dự thầu, đề xuất của nhà thầu có tổng số lao động là nữ giới hoặc thương binh, người khuyết tật sẽ luôn chắc chắn có tỷ lệ 25% trở lên và có hợp đồng lao động tối thiểu 3 tháng; nhà thầu hay nói cách khác cũng chính là doanh nghiệp nhỏ thuộc đối tượng hưởng ưu đãi…
Điều 9- Chi phí trong công cuộc lựa chọn nhà thầu:
Căn cứ quy mô luật đấu thầu 43, tính chất của gói thầu, chủ đầu tư nhất định sẽ quyết định mức giá bán một bộ hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu (bao gồm cả thuế) đối với đấu thầu trong nước nhưng tối đa không được vượt quá số tiền là 2.000.000 đồng đối với hồ sơ mời thầu và 1.000.000 đồng đối với các điều khoản hồ sơ yêu cầu; đối với đấu thầu quốc tế, mức giá bán theo thông lệ thông thường như các cuộc đấu thầu quốc tế.
Chi phí lập, thẩm định chính xác hồ sơ sơ tuyển:
Chi phí lập hồ sơ mời quan tâm, có thể nói luật đấu thầu 43 nói dựa trên hồ sơ mời sơ tuyển được tính bằng 0,05% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa chính xác nhận định là 30.000.000 đồng;
Chi phí thẩm định đối với danh sách tất cả đối với dạng hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển được tính bằng 0,03% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng cho tất cả và tối đa là 30.000.000 đồng.
Chi phí lập, thẩm định riêng đối với hồ sơ yêu cầu:
Chi phí lập hồ sơ mời thầu, theo luật đấu thầu 43 đã đề ra về hồ sơ yêu cầu được tính bằng 0,1% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa khi tính ra là 50.000.000 đồng;
Chi phí luật đấu thầu 43 nhằm đưa ra đáp ứng thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được tính bằng 0,05% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa chính xác sẽ là 50.000.000 đồng.
Chi phí đánh giá các loại hồ sơ đề xuất:
Chi phí luật đấu thầu 43 sẽ chấp nhận việc đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển được tính bằng 0,05% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa có thể xác định là 30.000.000 đồng;
Chi phí đánh giá hồ sơ dự thầu, luật đấu thầu 43 cho phép đối với dạng hồ sơ đề xuất được tính bằng 0,1% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa có thể tính là 50.000.000 đồng.
Chi phí thẩm định kết quả sẽ luôn có thể đưa ra lựa chọn nhà thầu không chỉ là kể cả trường hợp không lựa chọn được nhà thầu được tính bằng 0,05% giá gói thầu nhưng tối thiểu là 1.000.000 đồng và tối đa chắc chắn là 50.000.000 đồng.
Đối với các gói thầu có nội dung tương tự nhau cùng tất cả thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm, các gói thầu phải tổ chức lại việc lựa chọn nhà thầu thì sẽ luôn bao gồm hoàn toàn các chi phí: Lập, thẩm định hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển và còn nhiều loại hồ sơ khác; lập, thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ xác định sẽ có thể đáp ứng mọi yêu cầu được tính tối đa là 50% không chỉ là bởi mức chi phí quy định hiện hành thoe như Khoản 2 và Khoản 3 Điều này. Trường hợp tổ chức sẽ đáp ứng một phần sắp xếp lại việc lựa chọn nhà thầu thì phải tính toán, bổ sung chi phí lựa chọn nhà thầu vào dự án, dự toán mua sắm phù hợp dựa trên bằng chứng thực tế của gói thầu.
Chi phí luật đấu thầu 43 quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều luật đấu thầu 43 này áp dụng đối với trường hợp chủ đầu tư, bên mời thầu có thể sẵn sàng trực tiếp thực hiện. Đối với trường hợp thuê tư vấn về khoản chi đấu thầu chỉ với nhiệm vụ để thực hiện các công việc nêu tại các Khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này, việc xác định chi phí dựa trên các nội dung và phạm vi công việc, hay những phạm vi ngoài như thời gian thực hiện, năng lực kinh nghiệm của chuyên gia tư vấn và tổng hợp tất cả các yếu tố khác.
Chi phí cho Hội đồng đáp ứng với việc tư vấn và tiến hành giải quyết kiến nghị của nhà thầu về kết quả lựa chọn nhà thầu là 0,02% giá dự thầu của nhà thầu có kiến nghị nhưng tối thiểu chắc chắn sẽ phải là 1.000.000 đồng và tối đa là 50.000.000 đồng.
Chi phí đăng tải thông tin về đấu thầu, và còn rất nhiều loại chi phí khác nên lưu tâm khi tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và việc sử dụng các khoản thu chủ yếu là trong quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo hướng dẫn đại bộ phận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.
Tư cách nhà thầu tham dự thầu
Tại Điểm d Khoản 3 dựa theo tổng kết trực thuộc tại Điều 14 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định luật đấu thầu 43: “Bên mời thầu phải tiếp nhận HSDT của tất cả các nhà thầu nộp HSDT trước thời điểm đóng thầu, kể cả trường hợp khó khăn đối với nhà thầu tham dự thầu chưa mua hoặc chưa nhận HSMT sẽ có thể bắt đầu tiến hành trực tiếp từ bên mời thầu. Trường hợp chưa mua HSMT thì khi đó bên đáp ứng thầu phải trả cho bên mời thầu một khoản tiền bằng giá bán HSMT trước khi HSDT được tiếp nhận”. Với quy định này, những nhà thầu chưa mua, chưa kịp mua HSMT có phàn nào vẫn được nộp HSDT và tham gia đấu thầu bình thường, bình đẳng như các nhà thầu khác khi trước đã mua HSMT trước đó. Đối với những nhà thầu đã mua HSMT, thì tất nhiên là trong quá trình chuẩn bị HSDT, sau khi đọc kỹ HSMT, nếu thấy cần thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu so với khi mua HSMT thì không phải chắc chắn sẽ thông báo bằng văn bản tới bên mời thầu.
Trước đây luật đấu thầu 43 (Khoản 2 trực thuộc tại Điều 17 của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP), nhà thầu muốn tham dự thầu thì phải liên hệ với bên mời thầu/chủ đầu tư để mua hồ sơ mời thầu (HSMT), thậm chí nói cách khác là phải làm các thủ tục để đăng ký rồi mới được mua HSMT. và trong một số những trường hợp khi bên thầu tiền hành khoản điều kiện cần đáp ứng để thay đổi tên (tư cách) chỉ khi nào họ tham gia đấu thầu so với khi mua HSMT thì phải thông báo chính xác theo văn bản tới bên mời thầu.