Luật đất đai 1993
Ban hành dựa trên phần lớn văn bản pháp luật để thi hành Luật đất đai
Khác với thời kỳ tổ chức thi hành ban bố điều Luật đất đai 1987, trong hơn một năm qua, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân các cấp mà quan trọng nhất là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đã quan tâm đến việc nghiên cứu và ban hành các văn bản pháp quy thi hành Luật đất đai 1993. Đến nay ở Trung ương đã ban hành được 25 văn bản để hướng dẫn tổ chức thi hành Luật đất đai 1993. Trong đó có: 5 văn bản thuộc vào quy định thẩm quyền của Quốc hội và 20 văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ (Phụ lục 1).
Chính phủ đang chuẩn bị ban hành kế tiếp theo như Nghị định về quản lý và sử dụng đất quốc phòng, an ninh về xử phạt hành chính các vi phạm pháp luật đất đai, v.v..
Xây dựng hồ sơ chính thức tổng hợp để quản lý đất đai
Công tác điều tra
Tiến hành khảo sát, đo đạc, được đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính (Phụ lục 2). Các tỉnh đều đã triển khai việc tiến hành thiết lập hồ sơ quản lý đất đai, 80% số xã đang đổi mới hệ thống sổ sách, tài liệu theo yêu cầu quản lý sử dụng đất của Luật đất đai 1993.
Đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống từ Luật đất đai 1993 về tọa độ trắc địa cơ bản thống nhất trên cả nước lấy tên là “Hệ tọa độ Hà Nội 1994”, hiện chỉnh bản đồ theo chính dạng địa hình phủ trùm 1/50.000 để phục vụ nhiệm vụ phát triển lâu dài; đo vẽ bản đồ địa hình 1/5.000, 1/10.000 tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và thậm chí kể cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ việc chuẩn bị các dự án phát triển kinh tế trọng điểm; tổ chức việc đo vẽ biển và địa hình đáy biển để ban hành cho phục vụ nhiệm vụ kinh tế, an ninh, quốc phòng; 22% số xã thuộc 95 huyện, thị của 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành công việc đo đạc lập bản đồ địa chính theo quy trình thống nhất.
Đã có 18/53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định Luật đất đai 1993 từ đó mà giá đất trong khung giá của Nghị định 87/CP.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Hầu hết các địa phương tiến hành các bước tiếp theo dựa trên Luật đất đai 1993 đều đang xúc tiến việc định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2.000 và lập kế hoạch chuyển đất nông - lâm nghiệp đã và đang được sử dụng vào mục đích khác trong năm 1995-1996. Có 3 tỉnh, thành phố và một số huyện tiến hành thiết lập sơ đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2005 và 2010, đã có 2.000 phương án quy hoạch sử dụng đất cấp xã. Các tỉnh Tuyên Quang, Hải Hưng, Nghệ An… và có thể là các huyện Quảng Hà (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên Quang), Kim Môn (Hải Hưng), Nam Ninh (Nam Hà), Phú Bình (Bắc Thái)…, đang lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bộ Quốc phòng đã thống nhất được tổng hợp các phương án giải quyết với 9 tỉnh, thành phố về quy hoạch sử dụng đất của 36/49 điểm của Bộ, đã chuyển 11 cơ sở doanh trại với diện tích tổng cộng đến 137 ha và một nông trường quân đội với diện tích 1.200 ha cho chính quyền địa phương quản lý và tổ chức việc sử dụng.
Lập hồ sơ địa chính:
Tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc ban lãnh đạo Trung ương đều đang triển khai việc lập hồ sơ địa chính và đã có 700 xã hoàn thành công việc này.
Giao đất và tiến hành việc chứng nhận quyền sử dụng đất
Giao đất theo như Luật đất đai 1993 là việc xác định địa giới và cắm mốc của từng thửa đất cụ thể cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên thực địa, còn việc cấp giấy chứng nhận dựa vào thẩm quyền sử dụng đất được tiến hành sau khi đã đo đạc địa chính, giải quyết xong mọi tồn tại và tranh chấp đất đai, lập hồ sơ Luật đất đai 1993 về địa chính để xác lập cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của chính xác những người sử dụng đất. Trên thực tế, đây là hai bước tiến hành đề ra kế tiếp nhau.
Giao đất nông nghiệp (Phụ lục 3)
Căn cứ vào những quy định của Luật đất đai 1993 chính xác là về chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, Chính phủ đã cụ thể hóa một bước trong số các điều của Nghị định số 64/CP ngày 27-9-1993 ban hành chính xác về giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào xác định những mục đích sản xuất nông nghiệp.
Đến nay, dựa vào Luật đất đai 1993 đã có tổng cộng lên đến 7.481 xã tiến hành giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài cho 7,3 triệu hộ nông dân, với tổng toàn bộ theo diện tích là 4,19 triệu ha.
Căn cứ vào tình hình cụ thể, theo Luật đất đai 1993 các địa phương đã lựa chọn nhiều phương án khác nhau để bảo đảm được yêu cầu vừa ổn định vừa phát triển khi giao đất:
Ở các tỉnh, thành phố phía Bắc (trừ một số tỉnh miền núi) và duyên hải miền Trung: Dựa trên Luật đất đai 1993 phần lớn là kế thừa cách giao khoán đất cho hộ nông dân trong thời kỳ xác định ban hành thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, vì cách giao khoán này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị định 64/CP, trên toàn bộ những cơ sở đó, các địa phương đã công bố thời hạn sử dụng đất và quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất mà không phải điều chỉnh nhiều.
Giao đất lâm nghiệp:
Chính sách của Luật đất đai 1993 về đất lâm nghiệp đã được Chính phủ cụ thể hóa trong Nghị định số 02/CP ngày 15-01-1995 về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, Ngoài ra, theo như trong Luật đất đai 1993 Chính phủ đã có Quyết định số 327/CT vào chính xác ngày 15-9-1992 về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc và Quyết định số 773/TTg ngày 21-1-1994 về chương trình được ban hành khai thác ban hành việc sử dụng đất hoang hóa, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng.
Giao đất làm nhà ở:
Việc giao đất như Luật đất đai 1993 và sử dụng toàn bộ phần đất trong khu dân cư, nhất là ở đô thị, ven các đường giao thông chính…, đang đặt ra nhiều vấn đề phải khẩn trương nghiên cứu và đáp ứng việc giải quyết như: ở cả đô thị và nông thôn đều có những trường hợp rất khó xác định là hợp pháp, không hợp pháp hoặc chưa hợp pháp, đặc biệt là đối với phần lớn khu vực đất đô thị; thêm vào đó, bản đồ địa chính nhiều nơi chưa có nên việc giao đất, cấp giấy xác thực đính chính cho người sử dụng đất còn đang ở bước khởi đầu vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Hiện tượng tiêu cực về lĩnh vực này đang tiến hành việc diễn ra trong việc giao đất không đúng thẩm quyền, chuyển quyền sử dụng đất và mua bán nhà đất trái pháp luật thể hiện ra khá phổ biến, làm mất trật tự kỷ cương. Đây là một trong những vấn đề phức tạp phải giải quyết khi tiến hành giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đất quốc phòng và an ninh:
Để kịp thời giải quyết theo như Luật đất đai 1993, một số điều ban hành về vấn đề cấp bách trước mắt về đất quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ đã có Thông báo số 248/TB ngày 28-9-1993 ban hành quy định và Thông báo số 72/TB ngày 31-5-1994 về quy hoạch và quản lý sử dụng đất quốc phòng. Theo đó, Bộ Quốc phòng đã tổ chức ban hành việc quy hoạch đất quốc phòng ở những khu vực trọng điểm. Năm 1994, các địa phương đã tiến hành toàn bộ các việc cấp toàn bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hơn 300 cơ sở của quốc phòng, gần 40% số cơ sở doanh trại quân đội được ban hành việc hợp thức quyền sử dụng đất. Đất thuộc các đơn vị an ninh mới hợp thức được 30%, phần lớn đất thuộc hệ thống trại giam, chỉ có ít đất nông nghiệp, còn chủ yếu là đất rừng, đến nay, vẫn chưa được ban hành bởi các cấp có thẩm quyền giao chính thức. Việc hợp thức quyền sử dụng đất quốc phòng, trong công tác an ninh mới làm được ít là do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do chưa làm xong công tác quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, trong công tác an ninh và bị hạn chế về nhân, vật lực trong việc triển khai kế hoạch đo đạc và tiến hành thiết lập hồ sơ địa chính.